Nguyễn Thị Bình – Wikipedia tiếng Việt

Rate this post

Nguyễn Thị Bình (sinh năm 1927), là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định. Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 1992 đến 2002.

Thân thế và trong bước đầu sự nghiệp chính trị[sửa|sửa mã nguồn]

Bà tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa,[1] sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại làng Tân Hiệp, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là An Hiệp, Châu Thành, Đồng Tháp). Tuy nhiên, nguyên quán của cha bà là Cụ Nguyễn Đồng Hợi, lại ở Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam. Mẹ bà là bà Phan Thị Châu Lan (tục gọi là cô Mè, 1904-1944), là người con gái thứ hai của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh.

Cha của bà là ông Nguyễn Đồng Hợi từng làm tham tá công chánh thời Pháp thuộc, làm công tác họa đồ ( nên ông còn được gọi là Họa đồ Hợi ) nên thuở nhỏ mái ấm gia đình bà cư trú tại Phnôm Pênh, Campuchia, do đó bà được cho ăn học ở một trường nổi tiếng ở Đông Dương thời bấy giờ tại Phnôm Pênh là trường Lycée Sisowath. Bà được học tiếng Pháp ở đây cho hết tú tài I, và học rất khá .

Năm 1944, mẹ bà qua đời lúc bà mới 17 tuổi, bà theo gia đình trở về nước và bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước trong phong trào sinh viên học sinh như cứu tế và cướp chính quyền tại Sài Gòn. Sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ cuối năm 1945, cha bà ra chiến khu theo lời kêu gọi của Ủy ban hành chánh kháng chiến Nam Bộ (sau được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Đức Anh – sau này là Đại tướng, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam – là một trong hai người giới thiệu). Riêng bà ở lại để chăm sóc các em, vừa hoạt động bí mật cho phong trào Việt Minh khối sinh viên học sinh và phụ nữ. Lúc này, bà lấy bí danh là Yến Sa [2]. Năm 1948, bà được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương [3]. Năm 1951, bà bị thực dân Pháp bắt giam và bị tra khảo tại bót Catinat, sau đó bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn rồi khám Chí Hòa (1951-1953).

Năm 1954, bà ra tù và tham gia luôn vào trào lưu tự do đòi thi hành Hiệp định Genève. Năm 1955, bà được điều ra Bắc tập trung và được huấn luyện và đào tạo thêm theo chương trình tu dưỡng cán bộ đặc biệt quan trọng .

Trở thành nhà ngoại giao[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, bà được điều trở lại miền Nam với cái tên mới là Nguyễn Thị Bình, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng, hoạt động ở mảng đối ngoại, kiêm Phó Tổng thư ký Hội Phụ nữ Giải phóng.

Năm 1963 bà sang Trung Quốc và được lãnh tụ Mao Trạch Đông tiếp .Cuối năm 1968, bà được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng sang Paris dự Hội nghị Paris về Nước Ta, đến đầu tháng 1 năm 1969, ông Trần Bửu Kiếm giữ chức vụ trưởng đoàn, còn bà được rút về nước để chuẩn bị sẵn sàng cho việc xây dựng nhà nước lâm thời Cộng hòa miền Nam Nước Ta .

Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Sau đó bà lại trở sang Paris đảm nhận lại chức vụ Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ lâm thời. Trong suốt thời gian 1968-1972, bà nổi tiếng trong các cuộc họp báo tại hội nghị 4 bên tại Paris, với phong cách ngoại giao lịch lãm và duyên dáng, được giới truyền thông đặt cho biệt hiệu Madame Bình.

Khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, bà là người đại diện của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, một trong bốn bên ký vào bản Hiệp định.

Lịch sử ngành ngoại giao Nước Ta ghi nhận bà Nguyễn Thị Bình là nữ bộ trưởng liên nghành tiên phong .

Các chức vụ thời bình[sửa|sửa mã nguồn]

Sau sự kiện 30 tháng 4, bà làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo ( 1976 – 1987 ), rồi Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng ( 1987 – 1992 ). Bà còn là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V ( 03/1982 – 1986 ), Đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá X ( 1976 – 2002 ) .Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu làm Phó quản trị nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nước Ta và giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm ( 1992 – 2002 ). Bà là người phụ nữ Nước Ta thứ hai giữ chức vụ phó nguyên thủ [ 4 ] sau bà Nguyễn Thị Định – Phó quản trị Hội đồng Nhà nước ( tương tự Phó quản trị nước lúc bấy giờ ) .Sau khi nghỉ hưu vào năm 2002, bà liên tục làm quản trị của Quỹ Bảo trợ trẻ nhỏ Nước Ta. Năm 2003, bà xây dựng Quỹ Hòa bình và tăng trưởng Nước Ta và làm quản trị của tổ chức triển khai này cho đến nay. Ngoài ra, bà cũng là quản trị danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam / đioxin Nước Ta kể từ khi hội này được xây dựng vào tháng 1/2004. Năm 2001, bà được quản trị nước Trần Đức Lương trao khuyến mãi Huân chương Hồ Chí Minh .
Bà sinh ra ở trong 1 mái ấm gia đình có 6 anh chị em, cha bà là ông Nguyễn Đồng Hợi, mẹ là bà Phan Thị Châu Lan. Ông ngoại bà là nhà hoạt động giải trí chính trị Phan Châu Trinh .

Bà lập gia đình với ông Đinh Khang[5] năm 1955. Họ có hai người con: Đinh Nam Thắng (sinh năm 1956) và Đinh Thùy Mai (sinh năm 1960). Ông Đinh Khang qua đời năm 1989.

  • Gia đình, bạn bè, đất nước (hồi ký), Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội, 2012 (đã được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nhật)
  • Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam), trao ngày 31/8/2017[6]
  • Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng do Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trao sáng 24 tháng 10 năm 2021

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.