Chẩn đoán và điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới | Tim mạch học

Rate this post

Phác đồ 69 – 2019

Ban Biên soạn Phác đồ điều trị, Viện Tim TP. Hồ Chí Minh

 

1. ĐẠI CƯƠNG

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý khá phổ cập lúc bấy giờ, ảnh hưởng tác động đến sức khỏe thể chất, năng lực lảm việc và thậm chí còn là tính mạng con người của bệnh nhân. Tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng tương quan với đổi khác lối sống của xã hội. Những việc làm ngồi hoặc đứng nhiều và thực trạng béo phì là những yếu tố rủi ro tiềm ẩn của bệnh lý suy tĩnh mạch. Theo nghiên cứu và điều tra VCP, tần suất giãn tĩnh mạch ở người trưởng thành Nước Ta 9-30 %. Tính thông dụng, sự ngày càng tăng tỉ lệ suy tĩnh mạch mạn tính và ảnh hưởng tác động của bệnh lý này lên năng lực thao tác và chất lượng đời sống của bệnh nhân đặt ra yên cầu có những phương pháp điều trị hiệu suất cao để giúp bệnh nhân cải tổ triệu chứng, tránh những biến chứng muộn và cải tổ năng lực lao động .

2. CHẨN ĐOÁN

2.1. Triệu chứng :
– Tức, đau, nặng chân khi ngồi hoặc đứng, giảm khi ngồi hoặc khi nâng cao chân hoặc đi vớ áp lực đè nén, cần phân biệt với đau chân do những nguyên do cơ khớp, đau cách hồi của bệnh lý động mạch .
– Sưng, mỏi vùng mắt cá chân .
– Ngứa
– Co cơ ( chuột rút ) vào đêm hôm .
– Chân không yên, bồn chồn .
– Khám lâm sàng hoàn toàn có thể thấy những triệu chứng thực thể như phù chân, tĩnh mạch mạng nhện rác rưởi, búi dãn tĩnh mạch nông, loạn dưỡng da, chàm, loét …
2.2. Chẩn đoán siêu âm :
– Siêu âm là phương tiên chẩn đoán không xâm nhập, bảo đảm an toàn, hiệu suất cao, đáng an toàn và đáng tin cậy .
– Siêu âm đánh giá cả hệ tĩnh mạch sâu và nông, tối thiểu là phải khảo sát tĩnh mạch đùi chung và tĩnh mạch khoeo để bảo vệ khộng có ùn tắc và trào ngược ( I-A ) .
– Khuyến cáo siêu âm chú ý quan tâm đến bốn yếu tố : quan sát hình ảnh, năng lực đè ép, dòng chảy tĩnh mạch gồm có cả đo thời hạn dòng trào ngược và giải pháp làm tăng dòng chảy .
– Siêu âm tư thế đứng để nhìn nhận suy van tĩnh mạch bằng một trong hai cách : hoặc làm tăng áp lực đè nén ổ bụng bằng nghiệm pháp Valsalva, thường dùng nhìn nhận quai tĩnh mạch hiển và đùi, hoặc ở những đoạn xa thường dùng cách ép và thả bằng tay .
– Thời gian trào ngược không bình thường cho tĩnh mạch đùi và khoeo là lớn hơn 1 giây, và hơn 0,5 giây so với tĩnh mạch hiển lớn, tĩnh mạch hiển bé, tĩnh mạch chày, đùi sâu .
– Trên bệnh nhân suy tĩnh mạch nên được kiểm tra siêu âm tĩnh mạch xuyên cẩn trọng. Suy tĩnh mạch xuyên khi dòng chảy ngược ra tĩnh mạch nông dài hơn 0,5 giây và đường kính lớn hơn hoặc bằng 3.5 mm .
2.3. Phân độ :
– Sử dụng bảng phân độ CEAP

Độ 0 (C0): Không thấy các dấu hiệu giãn tĩnh mạch (nhìn hoặc sờ).

Độ 1 (C1): Có giãn mao mạch hoặc tĩnh mạch dạng lưới

Độ 2 (C2): Giãn tĩnh mạch.

Độ 3 (C3): Phù.

Độ 4 (C4): Rối loạn dinh dưỡng nguồn gốc tĩnh mạch: Rối loạn sắc tố da, chàm tĩnh mạch ….

Độ 5 (C5): Rối loạn dinh dưỡng như độ 4 + loét đã lành sẹo.

             Độ 6 (C6): Rối loạn dinh dưỡng như độ 4 + loét không lành sẹo.

– Cần phân biệt suy tĩnh mạch tiên phát và thứ phát với những suy tĩnh mạch thứ phát và bệnh lý bẩm sinh do ba thực trạng bệnh lý này có bệnh sinh và điều trị khác nhau .

3. ĐIỀU TRỊ

3.1. Điều trị nội khoa :
– Thuốc trợ tĩnh mạch như diosmin, hesperidin ( Daflon, hesmin, savidimin ), rutosides ( Troxerutin ) được đề xuất trên những bệnh nhân có đau và phù so suy tĩnh mạch mạn tính cùng với điều trị băng ép ( II-B ) .
Pentoxifylline tích hợp điều trị băng ép làm tăng lành vết loét tĩnh mạch ( II-B ) .
3.2. Điều trị băng ép :
– Điều trị băng ép là giải pháp hiệu suất cao để trấn áp triệu chứng của bệnh lý tĩnh mạch nông nhưng không điều trị khỏi nguồn gốc trào ngược. Khi bệnh nhân có dòng trào ngược hoàn toàn có thể điều trị được bằng những giải pháp dứt điểm thì nên được chỉ định trừ trường hợp có chống chỉ định hoặc bệnh nhân khước từ ( I-A ) .
– Khuyến cáo không xem điều trị băng ép như thể giải pháp bắt buộc tiên phong cho những trường hợp trào ngược tĩnh mạch bệnh lý khi bệnh nhân thích hợp cho những điều trị nội mạch ( I-A ) .
– Sau điều trị can thiệp, khuyến nghị dùng băng ép trong thời hạn hậu phẫu, thời hạn và áp lực đè nén do quyết định hành động lâm sàng của bác sỹ điều trị ( II-B ) .
– Suy tĩnh mạch chi dưới là bệnh mạn tính, bệnh nhân được khuyến nghị dùng vớ áp lực đè nén ngay cả sau khi điều trị dứt điểm, áp lực đè nén do quyết định hành động lâm sàng của bác sỹ điều trị ( II-C ) .
3.3. Điều trị can thiệp :

  • Điều trị nhiệt nội tĩnh mạch (Laser, tần số radio) là điều trị lựa chọn cho suy tĩnh mạch hiển và các nhánh (I-B).
  • Chống chỉ định điều trị nhiệt nội tĩnh mạch: không sờ thấy mạch ở bàn chân, bệnh nhân bất động, tình trạng sức khỏe chung kém, huyết khối tĩnh mạch sâu, có thai, tĩnh mạch hiển xoắn vặn không thể đưa ca-tê-te vào nội tĩnh mạch.
  • Phẫu thuật hở được chỉ định trong trường hợp tĩnh mạch không thích hợp với điều trị nội mạch tuy nhiên không được khuyến khích do đau, thời gian hồi phục dài và biến chứng (I-B).

Qui trình điều trị nhiệt nội tĩnh mạch (bằng Laser hoặc bằng tần số Radio)

  • Chuẩn bị bệnh nhân:
  • Bệnh nhân được siêu âm tư thế đứng đánh giá lại chỉ định can thiệp, lập bản đồ tĩnh mạch, đánh dấu vị trí thích hợp để chọc tĩnh mạch.
  • Trong phòng thủ thuật bệnh nhân nằm ngửa, giảm đau bằng Paracetamol 1g truyền tĩnh mạch.
  • Sát trùng toàn bộ 2 chân bằng Betadin sát trùng kỹ vùng bẹn.
  • Trải drap vô trùng.
  • Chọc tĩnh mạch theo phương pháp Seldinger dưới hướng dẫn của siêu âm
  • Luồn catheter đốt tới vị trí cách quai TM hiển 1,5-2 cm (EVRF và Laser) .
  • Gây tê quanh tĩnh mạch bằng phương pháp bơm phồng dưới hướng dẫn của siêu âm.
  • Tiến hành điều trị phát nhiệt (bằng Laser hoặc RF) hủy thân tĩnh mạch hiển.
  • Các kỹ thuật phối hợp (tiểu phẫu lấy tĩnh mạch nông bằng phương pháp Muller).

Các biến chứng có thể gặp và cách xử trí

  • Sốc phản vệ /Phản ứng dị ứng: rất hiếm, có thể gây tử vong.

Xử trí như những trường hợp sốc phản vệ .

  • Đau: Thông thường đau mức độ nhẹ đến trung bình.

Xử trí : thuốc giảm đau .

  • Sưng: có thể giảm sau vài ngày hoặc vài tuần.

Xử trí : hoàn toàn có thể dùng thuốc kháng viêm, giảm đau .

  • Phỏng da: hiếm gặp.

Xử trí : không có xử trí chuyên biệt .

  • Huyết khối tĩnh mạch sâu: rất hiếm (< 0,2%) có thể dẫn đến thuyên tắc phổi, trường hợp nặng có thể tử vong hoặc hội chứng hậu huyết khối gây loét da, sưng, đau kéo dài.

Xử trí : như những thực trạng huyết khối thuyên tắc khác .

  • Thay đổi sắc tố da: thường sẽ phục hồi.

Xử trí : không cần xử trí chuyên biệt .

  • Nốt dưới da: do các mảnh tĩnh mạch còn sót, tạo sẹo và cứng lại.

Xử trí: không cần xử trí chuyên biệt.

  • Tổn thương thần kinh: hiếm gặp, có thể gây tê đau, mất cảm giác tạm thời hoặc kéo dài.

Xử trí : thuốc giảm đau khi cần .

Tài liệu tham khảo :

  1. Gloviczki P, Comerota Aj, Dalsing MC et al. The care of patients with varicose veins and associated chronic venous diseases: clinical practice guidelines of the Society for Vascular Surgery and the American Venous Forum. Journal of Vascular Surgery 2011.
  2. American College of Phlebology Guidelines for The Treatment of Superficial Venous Disease of The Lower Leg 2017.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.