Sudan – Wikipedia tiếng Việt

Rate this post
Đối với những định nghĩa khác, xem Sudan ( khuynh hướng )

Sudan (phiên âm tiếng Việt: Xu-đăng) hay Bắc Sudan (phiên âm tiếng Việt: Bắc Xu-đăng),[5][6][7][8][9][10][11][12][13][14][15] tên chính thức là Cộng hòa Sudan (tiếng Ả Rập: السودان as-Sūdān), là một quốc gia ở châu Phi. Quốc gia này nằm ở điểm giao giữa Sừng châu Phi và Trung Đông. Sudan tiếp giáp với Ai Cập ở phía Bắc, Biển Đỏ ở phía Đông Bắc, Eritrea và Ethiopia ở phía Đông, Cộng hòa Trung Phi ở phía Tây Nam, Tchad ở phía Tây và Libya ở phía Tây Bắc, Nam Sudan ở phía nam. Sudan có diện tích lớn thứ 16 trên thế giới. Nam Sudan trước đây là một phần của Sudan, năm 2011 đã tách ra trở thành một quốc gia độc lập.

Phần lãnh thổ phía Bắc của Sudan thuộc Vương quốc Nubia cổ xưa. Trong thiên niên kỉ I TCN, người Ai Cập đến thành lập các vùng định cư ở Sudan, dần dần phát triển thành vương quốc Kush. Trong những thế kỉ sau đó, khi Ai Cập suy tàn, vương quốc Kush bảo tồn nền văn hóa Ai Cập. Vương quốc này bị người Aksum thuộc phía Bắc của Ethiopia tiêu diệt vào khoảng giữa thế kỷ IV.

Vào thế kỷ VI, những nhà truyền giáo đến xây dựng những nhà nước cùng chung sống với người Ả Rập Ai Cập Hồi giáo trong hơn 600 năm. Những người không thuộc hội đồng Ả Rập nắm quyền trấn áp Ai Cập đã khuyến khích những bộ lạc du mục Arập chuyển dời đến vùng Thượng Ai Cập và thực thi những cuộc cướp phá dọc theo biên giới Sudan. Cuối thế kỷ XIII, người Ả Rập xâm lăng vương quốc Nubia phần nhiều là người Cơ đốc giáo và định cư tại Sudan. Vương quốc Alwa ở miền trung Sudan bị một dân tộc bản địa không rõ nguồn gốc từ phía Nam đến chinh phục .

Thống nhất với Ai Cập[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 1820, phó vương Ai Cập là Muhammad Ali Pasha đánh chiếm lấy miền bắc Sudan rồi lại phái con là Ibrahim Pasha đánh tràn xuống phía nam. Cháu của Muhammad Ali sau khi lên ngôi là Ismail I liên tục củng cố chủ quyền lãnh thổ của Ai Cập trên quốc gia Sudan .
Năm 1879, những cường quốc châu Âu can thiệp vào nội bộ Ai Cập, bắt Ismail phải thoái vị và lập hoàng tử Tewfik lên làm vua. Tewfik lại nhu nhược, nạn thăm quan hoành hành nên ở Ai Cập có loạn Orabi. Vua Tewfik phải cầu viện nước Anh để dẹp loạn. Trong khi đó ở Sudan thì Muhammad ibn Abdalla dấy binh, tự xưng là ” Mahdi ” ( thủ lĩnh ) quyết càn quét quốc gia khỏi bọn ngoại xâm và phục hưng đạo Hồi. Dân theo về rất đông. Mahdi kéo binh về vây đánh thủ phủ Khartoum. Thành ấy vỡ ; tướng Charles George Gordon người Anh, được vua Ai Cập chỉ định làm thống đốc Khartoum cũng tử trận theo thành. Quân đội Ai Cập phải rút khỏi Sudan .

Thời Mahdi trị[sửa|sửa mã nguồn]

Muhammad ibn Abdalla dưới thương hiệu Mahdi xây dựng một vương quốc thần trị, áp đặt lao lý Hồi giáo rất khắc nghiệt. Các sách vở cũ tương quan đến hình luật và tín ngưỡng cựu triều đều bị đốt hết để thanh lọc xã hội .Được sáu tháng thì Mahdi mất vì bệnh thương hàn. Phó tướng Abdallahi ibn Muhammad lên thay, tự xưng là Khalifa ( thống lĩnh ) nước Sudan .
Lãnh thổ Sudan thời Mahdi ( 1881 – 98 ) so sánh với biên giới nước Sudan hiện hữu .Abdallahi ibn Muhammad mở chiến dịch bành trướng, đánh sang Ethiopia năm 1887. Hai năm sau quân Sudan xâm lăng Ai Cập nhưng bị quân Ai Cập dưới sự chỉ huy của sĩ quan Anh vượt mặt ở Tushkah. Các cuộc hành quân xuống miền nam Sudan thì bị quân Bỉ chặn đứng. Ở Eritrea quân Sudan cũng bị quân Ý vượt mặt. Chuỗi bại trận liên tục phá vỡ giấc mộng bá chủ bách thắng của quân Sudan .

Sudan thuộc Anh-Ai Cập[sửa|sửa mã nguồn]

Nhân danh triều đình Ai Cập, quân đội Anh dưới sự chỉ huy của tướng Horatio Kitchener mở cuộc hành quân tái chiếm Sudan vào cuối thế kỷ XIX. Trong ba năm từ năm 1896 đến 1898 quân Anh đánh tan lực lượng Mahdi. Trận kinh khủng nhất là trận Omdurman ( Umm Durman ) ngày 2 Tháng Chín khi hơn năm vạn quân Mahdi giao chiến thì quá nửa bị thương vong. Sau đó hai nước Anh và Ai Cập lập chính sách đồng trị xứ Sudan tuy trên trong thực tiễn chính phủ nước nhà Anh là nòng cốt quản lý Sudan như một thuộc địa .Ai Cập đã nhiều lần muốn hợp nhất Sudan vào Ai Cập nhưng Luân Đôn không ưng thuận. nhà nước Anh còn chia Sudan ra hai phần, miền Bắc đa phần theo Hồi giáo và miền Nam theo đạo Thiên Chúa .Khi Anh chấm hết cuộc chiếm đóng Ai Cập năm 1936 thì chính giới Ai Cập càng thúc giục việc hợp nhất với Sudan. Năm 1952, phe quân đội Ai Cập hòn đảo chánh, lật đổ vương triều cũ và lập nền cộng hòa. nhà nước mới cũng công bố hủy bỏ chính thể đồng trị ở Sudan. Vì Anh xưa kia đã nhân danh quốc vương Ai Cập mà đem quân vào Sudan, nay Ai Cập rút lui thì Anh cũng không còn nguyên do pháp lý nào để liên tục quản lý Sudan. Năm 1954, Anh và Ai Cập đồng thuận trao trả độc lập cho Sudan. Hai năm sau, ngày 1 Tháng Giêng 1956 nước Sudan độc lập sinh ra .

Nội chiến Sudan Thứ nhất 1955 – 1972[sửa|sửa mã nguồn]

Ngay từ trước khi Sudan độc lập hai miền Nam Bắc Sudan đã có nhiều xung đột. Miền Nam mang đậm nét văn hóa truyền thống địa phương với số đông dân chúng thờ thần linh vạn vật thiên nhiên hay theo đạo Thiên Chúa. Miền Bắc thì có nhiều liên hệ với khối Ả Rập Trung Đông và quốc tế Hồi giáo. Khác biệt này được người Anh tăng nhanh với 1 số ít luật cấm người phía bắc vĩ tuyến 10 không được vận động và di chuyển về phương nam, và ngược lại người phía nam vĩ tuyến 8 không được ra bắc. Trên triết lý luật này được phát hành để ngăn ngừa bệnh sốt rét không lan lên miền Bắc nhưng cũng có hậu quả ngăn cản đạo Hồi không bành trướng về phương nam. Tác dụng thứ hai là đạo Thiên Chúa được tự do truyền bá ở miền Nam không bị đạo Hồi kiềm chế. Đây là mầm mống xung khắc giữa hai miền .Cuộc nội chiến, còn gọi là ” Loạn Anyanya ” bùng nổ khi cơ quan chính phủ miền Bắc hủy bỏ kế hoạch lập một thể chế liên bang để quản lý hai miền vốn có nhiều sự không tương đồng. Chiến tranh lúc khởi đầu là cuộc chiến tranh du kích ở tỉnh Al-Istiwa ‘ iyah / Equatoria rồi lan sang hai tỉnh A’aly an-Nyl ( Thượng Nin ) và Bahr el Ghazal. Quân phiến loạn bị chia rẽ vì nguyên do chủng tộc nhưng phe cơ quan chính phủ cũng bị phe phái tranh nhau làm suy yếu. Năm 1958 ở Thành Phố Hà Nội Khartoum tướng Ibrahim Abboud chỉ huy cuộc thay máu chính quyền nhưng cũng không không thay đổi được tình hình. Nhiều chính phủ nước nhà khác liên tục lên nắm quyền cũng không xử lý được cuộc chiến Bắc Nam. Năm 1969 Gaafar Nimeiry cướp chính quyền sở tại và ngăn cấm mọi đảng phái chính trị nhưng rồi bị truất. Đảng Cộng sản Sudan cùng những nhóm Mác-xít đứng ra chấp chính nhưng liền bị Nimeiry vượt mặt .

Trong khi đó ở miền Nam năm 1971, Joseph Lagu thống nhất các nhóm du kích dưới tổ chức SSLM (Southern Sudan Liberation Movement, tức Phong trào Giải phóng Nam Sudan) và đứng ra điều đình với chính phủ Nimeiry. Các tổ chức quốc tế cũng tham gia bảo trợ cuộc đàm phán. Kết quả là Hiệp định Addis Ababa ký năm 1972 kết thúc 17 năm xung đột. Giá Sudan đã phải trả là nửa triệu người tử vong và hàng trăm nghìn dân tỵ nạn bị ly tán. Theo hiệp ước đó thì miền Nam Sudan được tự trị và hòa bình tái lập nhưng khác biệt cơ bản giữa hai miền vẫn không thay đổi. Hiệp định Addis Ababa cốt chỉ là tạm thời cho đến khi một giải pháp tổng thể được hoạch định.

Nội chiến Sudan Thứ hai 1983 – 2005[sửa|sửa mã nguồn]

miền Nam SudanTrong mười năm đình chiến từ 1972 đến 1982, chính quyền sở tại miền Nam Sudan được rộng quyền tự trị nhưng Tổng thống Nimeiry năm 1983 đòi tăng cường chủ trương ” Hồi hóa ” toàn nước bằng cách phát hành bộ luật mới địa thế căn cứ theo luật Shari’a của đạo Hồi. Ở miền Bắc Nimeiry công bố thiết quân luật để được rộng quyền vận dụng Shari’a. Theo luật mới thì kẻ trộm cắp bị hình phạt chặt tay. Ai chứa chấp rượu thì bị đánh bằng roi bất kể người đó có theo đạo hay không .

Dân miền Nam Sudan chống lại chính sách mới của chính phủ Khartoum. Cũng năm 1983 tổ chức SPLA (Sudan People’s Liberation Army, “Quân đội Giải phóng Nhân dân Sudan”) ra đời do John Garang lãnh đạo với yêu sách độc lập cho miền Nam Sudan. Tháng Chín năm 1984 Nimeiry tuyên bố sẽ miễn không áp dụng Shari’a cho những ai không theo đạo Hồi nhưng nhóm SPLA vẫn không giải giáp. Dựa trên chủ thuyết Mác-xít lực lượng SPLA được khối Cộng sản gồm Liên Xô và Ethiopia viện trợ vũ khí và quân nhu.

Cuộc chiến thêm gay cấn vì hạn hán và nạn đói hoành hành miền Nam Sudan. Tháng Tư năm 1985 trong khi Nimeiry xuất ngoại, tướng Abdul Rahman Suwar ad-Dahhab mở cuộc hòn đảo chánh, hủy bỏ chủ trương ” Hồi hóa “. Tuy nhiên bộ luật Shari’a vẫn để nguyên. nhà nước tiếp nối là do thủ tướng dân lập Sadiq al-Mahdi ra chấp chính đại diện thay mặt liên minh ba đảng :

  • Hizb al-Umma (đảng Umma);
  • Al Hizb Al-Ittihadi Al-Dimuqrati, thường viết tắt là DUP (Democratic Unionsit Party, “Đảng Thống nhất Dân chủ”) và
  • Al-Jabhah al-Islamiyah al-Qawmiyah, viết tắt là NIF (National Islamic Front, “Mặt trận Hồi giáo Quốc gia”).

Sang năm 1986 thì Khartoum mở hòa đàm với nhóm SPLA của Garang để vãn hồi độc lập. Năm 1988 đảng DUP cùng SPLA ký chung một thỏa thuận hợp tác dựa trên hội nghị Koka Dam trước kia tại Ethiopia, trong đó có ba điểm chính :

  1. Ngưng bắn
  2. Ngưng áp dụng luật Shari’a
  3. Chấm dứt thiết quân luật. Sau đó sẽ tổ chức hội nghị lập hiến để vạch một đường đi mới cho cả nước Sudan.

Trong khi đó cuộc chiến tranh càng thêm quyết liệt. Tình hình kinh tế tài chính càng khó khăn vất vả vì vật giá tăng nhanh. Vì không muốn nhượng bộ phe miền Nam, thủ tướng Sadiq al-Mahdi không chịu trải qua hòa ước giữa DUP và SPLA. Kết quả là Tháng Mười Một năm 1988 đảng DUP rút khỏi liên minh chính phủ nước nhà. Đầu năm 1989 phe quân đội ra tối hậu thư đòi cơ quan chính phủ phải triển khai hòa đàm nếu không sẽ thay máu chính quyền. Dưới áp lực đè nén đó Sadiq al-Mahdi đành trải qua hòa ước, đợi ngày hội nghị lập hiến Tháng Chín .

Tháng 6 năm 1989. Omar Hassan al-Bashir với sự hậu thuẫn của đảng NIF cướp chính quyền. Nhóm quân phiệt 15 người (năm 1991 rút thành 12) lên nắm quyền dưới danh nghĩa RCC (Revolutionary Command Council for National Salvation, tức “Hội đồng Chỉ huy Cách mạng Cứu Quốc”). Tiếp theo là một cuộc thanh trừng dân sự lẫn quân sự. Các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị và các tổ chức phi tôn giáo đều bị cấm hoạt động.

Ngoài lực lượng quân đội chính quy, chính phủ quân phiệt còn dùng nhóm al-Difaa al-Shaabi, viết tắt là PDF (People’s Defense Forces, “Lực lượng Phòng vệ Nhân dân”) để càn quét các tỉnh miền Nam. Quân Sudan kiểm soát những thị trấn lớn như Juba, Wau, và Malakal nhưng quân SPLA thì vẫn chiếm đóng phần lớn các tỉnh phía Nam. Tình hình thêm rối loạn khi quân SPLA vì bất đồng nội bộ phân hóa thành mấy nhóm: nhóm Nasir, nhóm của Bany và nhóm Bol.

Dù vậy những cuộc hòa đàm từ từ có tác dụng và Hiệp ước Hòa bình Tổng thể được ký ở Nairobi vào Tháng Giêng năm 2005. Hiệp ước đó được cho phép quân đội hai miền không phải giải giới và được giữ nguyên vị trí nhưng miền Nam được sáu năm tự trị. Tiếp theo đó là cuộc trưng cầu dân ý để quyết định hành động chính thể cho miền Nam. Lợi tức tài nguyên dầu lửa sẽ được chia đôi. Để hợp nhất hai chính phủ nước nhà, Garang được thâu nạp làm một trong hai phó tổng thống Sudan. Tiếc thay Tháng Tám năm 2005 trong một phi vụ trực thăng, máy bay rớt và Garang tử thương. Phe SPLA nổi dậy làm mưa làm gió đốt phá nhưng tình hình dần lắng dịu. Liên hiệp Quốc cũng giúp sức với những dự án Bất Động Sản cứu trợ nhân đạo và thông dụng nhân quyền ở Sudan, làm không thay đổi xã hội. Vấn đề chưa xử lý là chủ quyền lãnh thổ hạt Abyei với nhiều mỏ dầu thô. Cả hai phe Bắc và Nam đều đòi quyền quản lý khu vực này .

Trưng cầu dân ý năm 2011[sửa|sửa mã nguồn]

Sau sáu năm tự trị ( 2005 – 2011 ) miền Nam Sudan theo Hiệp ước Hòa bình Tổng thể ký ở Nairobi năm 2005 mở cuộc trưng cầu dân ý lê dài một tuần từ 9 Tháng Giêng đến 15 Tháng Giêng 2011 để quyết định hành động chính thể cho miền Nam. Dân miền Nam muốn bỏ phiếu phải ghi danh. Phòng phiếu cũng mở ở miền Bắc để dân Nam cư trú ở miền Bắc hoàn toàn có thể đi bầu. Ở hải ngoại như Úc, Canada, Ai Cập, Ethiopia, Kenya, Uganda, Anh và Hoa Kỳ cũng có phòng phiếu để người Nam Sudan lưu vong tham gia. [ 16 ]Kết quả cuộc trưng cầu dân ý đưa ra số lượng gần 98,83 % số phiếu ủng hộ độc lập cho miền Nam. nhà nước TW công bố sẽ đồng ý quyết định hành động của đại đa số và sẽ thực thi chuyển giao. [ 17 ]
Vùng Darfur

Trong khi cuộc Nội chiến Bắc Nam có nhiều triển vọng giải quyết được, vùng Darfur phía tây bùng cháy dữ dội từ năm 2003 vì tranh chấp bộ tộc. Chính phủ Khartoum cố dùng giải pháp dân binh (militia) để dẹp các bộ tộc nhưng nhóm dân binh “janjawid” do chính phủ tài trợ thay vì tái lập trật tự, lại góp phần cướp phá giết hại nên bị các nước lên án là gây nên nạn diệt chủng tại Darfur. Số dân tỵ nạn lên đến hàng triệu người. Số người chết đói, chết vì bệnh tật rất cao[18]. Số dân tràn sang Tchad cũng đã gây bất ổn chính trị ở nước này.

Vào cuối năm 2005 Tchad cho tổng động viên khi quân phiến loạn Rassemblement pour la Démocratie et la Liberté do Khartoum ủng hộ dùng vùng biên giới đánh phá quân chính phủ N’Djamena. Khi thị trấn Adré thuộc Tchad bị uy hiếp, Tchad tuyên chiến với Sudan ngày 23/12/2005. Chính phủ Khartoum bác bỏ lời cáo buộc của N’Djamena và phản bác rằng chính quân lực Tchad đã xâm phạm không phận của Sudan. Tình hình bớt căng thẳng khi hai nước ký hiệp ước đình chiến ngày 3 Tháng Năm, 2007 tại Ả Rập Xê Út và tuyên bố sẽ nỗ lực duy trì hòa bình dọc dải biên giới 1.000 km.

Xung đột Miền Đông[sửa|sửa mã nguồn]

Bản đồ Sudan với ba tiểu bang Kassala, Al Qadarif và Al Bahr al Ahmar tô đỏ. Eritrea giáp giới ba tỉnh này về hướng đông .Trong khi đại chiến Bắc Nam Sudan lê dài thì miền Đông có loạn do những bộ tộc Beja và Rashaida nổi lên chống lại chính phủ nước nhà Khartoum. Các nhóm này hợp nhất dưới một tổ chức triển khai mang tên ” Mặt trận Miền Đông ” đánh phá ba tỉnh Kassala ( Ash Sharqiyah ), Al Qadarif và Al Bahr al Ahmar. nhà nước nước Eritrea lúc đầu ủng hộ Mặt trận nhưng đến giữa năm 2005 lại đổi chủ trương, hợp tác với cơ quan chính phủ Khartoum. Với Eritrea làm trung gian, Khartoum và Mặt trận Miền Đông mở cuộc hòa đàm và đến 14 Tháng Mười năm 2006 thì hai bên ký hòa ước ở Asmara, thủ đô hà nội Eritrea. Theo hòa ước này thì ba tiểu bang Kassala ( Ash Sharqiyah ), Al Qadarif và Al Bahr al Ahmar cả hai phe, chính phủ nước nhà TW và Mặt trận Miền Đông sẽ chia nhau tài nguyên và quyền lực tối cao ở cấp liên bang và tiểu bang .
Chính thể hiện hữu tại Sudan được coi là một cơ quan chính phủ độc tài với quyền lực tối cao tập trung chuyên sâu trong tay của Tổng thống Omar al-Bashir. Bashir lên cướp chính quyền sở tại trong một cuộc thay máu chính quyền hồi Tháng Sáu năm 1989 và giữ vai trò tối cao từ đó đến 2019 .Từ năm 1983 đến 1997 Sudan được chia thành tám xứ ( 5 xứ thuộc miền Bắc, 3 ở miền Nam ). Mỗi xứ có đô thống quân đội đứng đầu. Sau cuộc thay máu chính quyền năm 1985 thì hội đồng hàng xứ đã bị giải thể .Tháng 12 năm 1999 cuộc tranh chấp quyền lực tối cao giữa Tổng thống Omar al-Bashir và quản trị Quốc hội Hassan al-Turabi bùng nổ. Turabi bị tước hết quyền lực tối cao, Quốc hội bị giải tán, hiến pháp bị bãi bỏ và tổng thống công bố thiết quân luật. Mãi đến Tháng Hai năm 2001, sau cuộc tuyển cử năm 2000 cơ quan chính phủ mới cho triệu tập lại Quốc hội nhưng thiết quân luật vẫn giữ nguyên và Turabi bị tống giam vì tội hiệp thương với lực lượng SPLA. Turabi liên tục lên án cơ quan chính phủ nên dù khi được thả khỏi tù, ông vẫn bị quản chế tại gia .Theo Hiệp định Hoà bình Bắc – Nam ( 2005 ), Sudan xây dựng nhà nước đoàn kết dân tộc bản địa và Quốc hội 450 ghế theo tỉ lệ phân loại đảng Đại hội Quốc gia ( NCP ) : 52 %, Phong trào Giải phóng miền Nam Sudan ( SPLM ) : 28 %, những đảng phái miền Bắc khác : 14 %, những đảng phải miền Nam khác : 6 %. Từ 2/2003, những nhóm vũ trang Darfur ( miền Tây Sudan ) nổi dậy chống nhà nước với nguyên do nhà nước không chăm sóc đến Darfur. Ngày 5 tháng 5 năm 2006, dưới sự bảo trợ của Liên minh châu Phi, Phong trào Giải phóng Sudan ( 1 trong 2 nhóm vũ trang lớn nhất ở Darfur ) do Minawy đứng đầu ký Hiệp định hoà bình với nhà nước Sudan. Tháng 2 năm 2009, nhà nước Sudan và Phong trào Công bằng, Công lý đã ký Văn kiện kiến thiết xây dựng lòng tin mở đường cho đàm phán tự do giữa nhà nước và những nhóm nổi dậy tại Darfur .

Quan hệ quốc tế[sửa|sửa mã nguồn]

Sudan thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, không liên kết; có quan hệ tốt với các nước Đông Âu, Nga, Ả Rập, châu Phi, Iran và Trung Quốc. Trung Quốc có nhiều đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng và dầu mỏ tại Sudan.

Mỹ xếp Sudan vào ” list những nhà nước khủng bố ” ; áp đặt luật cấm vận kinh tế tài chính trọn vẹn với Sudan ngày 3 tháng 11 năm 1997 ; lệnh bắt Tổng thống Sudan của Tòa án Hình sự Quốc tế ngày 4 tháng 3 năm 2009 được Mỹ, Pháp, Anh, Đức ủng hộ. Tuy nhiên, ngày 24/11/2017, Mỹ gỡ bỏ cấm vận so với Sudan .Sudan là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Phi ( AU ), Tổ chức Hội nghị Hồi giáo ( OIC ), Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF ), quan sát viên của Tổ chức thương mại quốc tế ( WTO ) …Sudan có quan hệ đặc biệt quan trọng với Trung Quốc, là vương quốc góp vốn đầu tư chính vào công nghiệp dầu khí của Sudan .Trong lịch sử vẻ vang, Liên Xô đã giữ mối quan hệ mật thiết với Sudan. Nhưng khi Liên Xô tan rã, Tổng thống Nga tiên phong Boris Nikolayevich Yeltsin đã cáo buộc Sudan ” phạm tội ác nhân loại dã man “, và ủng hộ trừng phạt Sudan. Đến năm 2000, Tổng thống Vladimir Vladimirovich Putin đã cố thiết lập lại quan hệ, tuy nhiên sự thiếu chăm sóc của Nga với Sudan khiến Sudan vẫn nghi kỵ với Nga .
Năm 2005, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận đồng ý nghị quyết số 1593 đề xuất đưa tình hình ở Darfur ra trước Tòa án Hình sự Quốc tế, họp tại Den Haag, để tìm nguyên do và nghĩa vụ và trách nhiệm về những tội ác đã đưa đến cái chết của khoảng chừng 300.000 người và khiến hơn 2 triệu người khác phải thất tán, kể từ năm 2003. Tháng 7 năm 2008, Trưởng ban công tố tòa án nhân dân Hình sự Quốc tế, còn gọi tắt là ICC, đã trình diễn với hội đồng gồm 3 thẩm phán những dẫn chứng cáo buộc Tổng thống Bashir về nghĩa vụ và trách nhiệm có tương quan đến 10 cáo trạng về diệt chủng, những tội ác so với quả đât và những tội ác cuộc chiến tranh, đồng thời nhu yếu tòa công bố trát bắt ông Bashir [ 19 ]. Phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Kiến Siêu nói rằng Bắc Kinh vẫn duy trì quan hệ thân hữu với Sudan và rất lo lắng về những cáo trạng vừa kể và Trung Quốc ( là vương quốc góp vốn đầu tư chính vào công nghiệp dầu khí của Sudan ) cũng phủ nhận một bản tin của đài Đài truyền hình BBC nói rằng Trung Quốc đã vi phạm một lệnh cấm vận vũ khí vận dụng so với Sudan [ 20 ] .

Địa giới hành chính[sửa|sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính Cộng hòa SudanSudan được chia làm 17 bang, những bang này lại chia tiếp thành 133 Q. .
Ngoài những tiểu bang, còn có những cơ quan hành chính khu vực được xây dựng theo thỏa thuận hợp tác độc lập giữa cơ quan chính phủ TW và những nhóm nổi dậy .

  • Các khu vực Darfur được thành lập theo Hiệp định hòa bình Darfur để hoạt động như một cơ quan điều phối cho các bang tạo nên các khu vực Darfur.
  • Hội đồng Điều phối Đông Sudan được thành lập theo Hiệp định hòa bình Đông Sudan giữa Chính phủ Sudan và phiến quân Mặt trận phía Đông để hoạt động như một cơ quan điều phối cho ba tiểu bang phía đông.
  • Khu vực Abyei, nằm ​​trên biên giới giữa Nam Sudan và Cộng hòa Sudan, hiện đang có một tình trạng hành chính đặc biệt và được quản lý bởi một cơ quan trong khu vực Abyei. Đó là do cuộc trưng cầu dân ý vào năm 2011 về việc có nên tham gia một Nam Sudan độc lập hoặc vẫn là một phần của nước Cộng hòa Sudan.

Sudan nằm ở Đông Phi, Bắc giáp Ai Cập, Đông Bắc giáp biển Đỏ, Đông giáp Eritrea và Ethiopia, Tây giáp Tchad, Libya và Cộng hòa Trung Phi, Nam giáp Nam Sudan .Sudan là nước có diện tích quy hoạnh lớn thứ ba châu Phi. Toàn bộ vùng cao nguyên ( 300 m đến 1.200 m ) to lớn thoải dần từ Nam đến Bắc và được bao quanh bởi một vài khối núi vùng ngoại vi ở phía Tây ( vùng núi Darfour ; Djebel Marra, 3.088 m ), ở phía Đông Bắc ven biển Đỏ ( Djchel Erba, 2.217 m ; Djehel Oda, 2.259 m ) .Phần lớn dân cư tập trung chuyên sâu ở những vùng hợp lưu của sông Nile Trắng và sông Nile Xanh. Ở phía Bắc, những vùng sa mạc gợn sóng tiếp nối đuôi nhau với những đồng cỏ. Tài nguyên vạn vật thiên nhiên ở Sudan gồm có dầu mỏ, quặng sắt ( trữ lượng nhỏ ), đồng, kẽm, crom, tungsten, mica, vàng, bạc, thủy điện .Khí hậu ở Sudan nằm trong vùng khí hậu sa mạc khô và nóng. Do hầu hết chủ quyền lãnh thổ là sa mạc Sahara nên Sudan thiếu nguồn nước tự nhiên nghiêm trọng ; ô nhiễm nước gây nguy cơ tiềm ẩn cho sức khỏe thể chất con người ; đất bị xói mòn ; sa mạc hóa ; nạn săn bắt thái quá rình rập đe dọa những loài thú rừng .
Sudan là vương quốc chậm tăng trưởng .Nền kinh tế tài chính đa phần dựa vào nông nghiệp ( chiếm 80 % lực lượng lao động ), gồm ngành trồng cây lương thực ( lúa miến, khoai lang, sắn ) và ngành chăn nuôi ( bò, cừu, dê, lạc đà ) ở những vùng phía Bắc và phía Nam. Bông vải là mẫu sản phẩm xuất khẩu chính. Nguồn tài nguyên và nguồn năng lượng chưa được chú trọng khai thác. Vùng chủ quyền lãnh thổ phía Nam có những giếng dầu lớn, Sudan khởi đầu xuất khẩu dầu vào năm 1999. Một số ngành công nghiệp tập trung chuyên sâu ở Khartoum và Port Sudan, hầu hết là những ngành chế biến nông sản .Cơ cấu kinh tế tài chính của Sudan bị trộn lẫn do cuộc nội chiến hoành hành ở miền Nam có hầu hết người Kitô giáo da đen chống lại sự quản lý của người Hồi giáo ở miền Bắc. Các nước phương Tây và một số ít nước Ả Rập ôn hòa đã đình chỉ những khoản trợ giúp, nợ quốc tế ngày càng tăng chồng chất .Sản phẩm công nghiệp gồm có : Dầu mỏ, bông vải, hàng dệt, xi-măng, dầu ăn, đường, xà phòng, giày dép, dầu tinh lọc, dược phẩm, vũ khí, xe hơi và xe vận tải đường bộ nhẹ .Sản phẩm nông nghiệp gồm có : Bông vải, lúa mì, lúa miến, lạc, kê, vừng, mía, sắn, khoai lang, chuối, xoài, đu đủ, gôm Arập ; cừu, gia súc .Trong năm 2010, Sudan đã được coi là nền kinh tế tài chính đứng hàng thứ 17 trong những nước có nền kinh tế tài chính tăng trưởng nhanh nhất trên quốc tế và sự tăng trưởng nhanh gọn của quốc gia hầu hết từ doanh thu dầu ngay cả khi phải đương đầu với những lệnh trừng phạt quốc tế năm 2006. Vì sự ly khai của Nam Sudan, trong đó có hơn 80 % giếng dầu của Sudan, dự báo kinh tế tài chính cho Sudan vào năm 2011 và xa hơn nữa là không chắc như đinh. [ 21 ]Ngay cả với doanh thu dầu trước khi sự ly khai của Nam Sudan, Sudan vẫn còn phải đương đầu với những yếu tố kinh tế tài chính lớn và sự tăng trưởng của nó vẫn còn chưa chắc như đinh. Trong mọi trường hợp, nền kinh tế tài chính ở Sudan đã được tăng trưởng từ hơn mười năm qua, và theo báo cáo giải trình của Ngân hàng Thế giới tăng trưởng GDP năm 2010 là 5,2 % so với 4,2 % năm 2009. [ 22 ] Sự tăng trưởng này là duy trì ngay cả trong cuộc khủng hoảng cục bộ ở Darfur và tiến trình độc lập tự chủ của Nam Sudan. [ 23 ]

Nhân khẩu học[sửa|sửa mã nguồn]

Trong tìm hiểu dân số của Sudan năm 2008, dân số của miền Bắc, Tây và Đông Sudan được ghi nhận là hơn 30 triệu. [ 24 ] Điều này khiến những ước tính hiện tại của dân số Sudan sau khi sự ly khai của Nam Sudan ít hơn 30 triệu người. Đây là một sự ngày càng tăng đáng kể trong hai thập kỷ qua như tìm hiểu dân số năm 1983 đưa tổng dân số của Sudan, gồm có cả Nam Sudan ngày này, tại thời gian lúc đó là 21,6 triệu. [ 25 ] Dân số của thành phố Khartoum tăng trưởng nhanh gọn và được ghi nhận là 5,2 triệu .Mặc dù là một vương quốc có nhiều người dân đi tỵ nạn ở nước khác, nhưng Sudan cũng là nước có người tỵ nạn. Theo khảo sát người tị nạn Thế giới 2008, được xuất bản bởi Ủy ban Hoa Kỳ về người tị nạn và nhập cư, 310.500 người tị nạn sống ở Sudan năm 2007. Phần lớn số này đến từ Eritrea ( 240.400 người ), Chad ( 45.000 ), Ethiopia ( 49.300 ) và Cộng hòa Trung Phi ( 2500 ). Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn trong năm 2007 buộc phải trục xuất tối thiểu 1.500 người tị nạn .
Người Ả Rập ước tính chiếm khoảng chừng 70 % dân số Sudan. [ 26 ] Những nhóm dân tộc bản địa khác là Arabized sống ở khu vực Nubia theo Giáo hội Công giáo Coptic và người Beja. [ 27 ]Sudan hiện có 597 bộ lạc nói hơn 400 ngôn từ khác nhau và tiếng địa phương. [ 28 ] Người Ả Rập đến nay là nhóm dân tộc bản địa lớn nhất ở Sudan. Họ gần như trọn vẹn theo Hồi giáo, trong khi phần nhiều nói tiếng Ả Rập Sudan, 1 số ít bộ tộc Ả Rập khác nói tiếng địa phương khác nhau như bộ tộc Awadia, Fadnia và Bani Arak nói tiếng Ả Rập Najdi và những bộ lạc Rufa’a, Bani Hassan, Al-Ashraf, Kinanah và Rashaida tiếng Ả Rập Hejazi. Ngoài ra, những bang miền Tây có những nhóm dân tộc bản địa khác, trong khi một vài người Bedouin của bang phía bắc Rizeigat .Người Ả Rập sống ở miền Bắc và miền Đông hầu hết là những người di cư từ bán đảo Ả Rập và 1 số ít người dân địa phương đã có từ trước của Sudan, đặc biệt quan trọng là những người Nubian, cùng san sẻ một lịch sử vẻ vang chung với Ai Cập và Beja. Ngoài ra, một vài bộ tộc Ả Rập tiền Hồi giáo sống sót ở Sudan từ trước đó di cư vào khu vực từ Tây Arabia, mặc dầu hầu hết người Ả Rập ở Sudan thời nay di cư từ sau thế kỷ XII. [ 29 ]Phần lớn những bộ tộc Ả Rập ở Sudan di cư vào Sudan trong thế kỷ XII, họ kết hôn với người dân Nubian và địa phương châu Phi và trình làng Hồi giáo đến những dân tộc bản địa này. [ 30 ]Chung với nhiều phần còn lại của quốc tế Ả Rập, quy trình Ả Rập hóa ở Sudan từ những cuộc di cư Ả Rập sau thế kỷ XII đã dẫn đến sự thống trị của tiếng Ả Rập và những góc nhìn của văn hóa truyền thống Ả Rập, dẫn đến sự biến hóa lớn của Sudan và đã để lại một truyền thống dân tộc bản địa Ả Rập ngày ngày hôm nay. Quá trình này được tăng nhanh bởi cả hai sự lây lan là Hồi giáo và di cư đến Sudan của phả hệ người Ả Rập từ bán đảo Ả Rập, và hôn nhân gia đình của họ với người dân địa phương .Sudan cũng gồm có rất nhiều những bộ lạc không nói tiếng Ả Rập, ví dụ điển hình như Masalit, Zagawa, Fulani, Bắc Nubia, Nuba, và Bija .
Một thánh đường Hồi giáo ở Bắc Sudan

Tôn giáo tại Sudan[31]
tôn giáo tỷ lệ
Hồi giáo 97%
Tín ngưỡng 1.5%
Cơ đốc giáo 1.5%

Có 97 % dân số tuân thủ Hồi giáo. [ 32 ] Hầu hết là người Hồi giáo Sunni. Một số ít người theo Hồi giáo Shia hoặc Sufism. Ngoài ra còn có Giáo hội Công giáo Coptic và Chính Thống giáo Hy Lạp ở Khartoum và những thành phố khác ở phía Bắc .Ngoài ra còn có những hội đồng Chính Thống giáo Ethiopia và Eritrea ở Khartoum và phía tây Sudan, hầu hết là những người tị nạn và người di cư từ vài thập kỷ qua. Nhóm Kitô giáo khác nhỏ hơn trong nước gồm có Giáo hội Công giáo Phi châu địa phương, Giáo hội Tông Đồ Armenia, Giáo hội Sudan của Chúa Kitô, Giáo hội Nội vụ Sudan, Nhân chứng Jehovah, Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành phái Presbyterian Church ( ở miền Bắc ). Tôn giáo đóng một vai trò trong việc chia rẽ chính trị của quốc gia. Hồi giáo đã thống trị mạng lưới hệ thống chính trị và kinh tế tài chính của quốc gia kể từ khi độc lập .
Giáo dục đào tạo phổ cập bắt buộc và không tính tiền 6 năm, tuy nhiên vẫn chưa thực thi được ( do nội chiến và thiếu thốn phương tiện đi lại ). Ở miền Bắc và miền Trung, chỉ có khoảng chừng 1/2 số trẻ nhỏ đến tuổi được đến trường. 3/4 khu vực có trường tiểu học và 1/5 khu vực có trường trung học. Sudan có một trường ĐH ở thủ đô hà nội Khartoum .

  • “Quo Vadis bilad as-Sudan? The Contemporary Framework for a National Interim Constitution”. Law in Africa (Köln; 2005). Vol. 8, pp. 63–82. ISSN 1435-0963.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

  • Mục trên trang của CIA World Factbook.

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.