CHẨN ĐOÁN NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG MẬT VÀ TAM CHỨNG CHARCOT

Rate this post

I. Triệu chứng bệnh:

Bất kì 1 bệnh nhân nhiễm trùng đường mật nào cũng đều có 3 triệu chứng (tam chứng, trong tiếng Anh là triad) bao gồm sốt, đau và vàng da. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân nhiễm trùng đường mật do sỏi kẹt ống mật chủ (cấp tính/ acute cholangitits), thì các triệu chứng trên biểu hiện theo thứ tự: Đau quặn mật -> Sốt -> Vàng da, được gọi là TAM CHỨNG CHARCOT

Kết quả hình ảnh cho charcot triad

Source: https://weheartit.com/entry/190177909

  1. SỐT: (Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân)
  • Cần phân biệt được hội chứng nhiễm trùng và hội chứng ĐƯVTT. Ta chỉ khẳng định hội chứng nhiễm trùng khi khẳng định được nguyên nhân gây sốt là do vi khuẩn gây ra (ví dụ như ổ mủ, kq cấy,…). Còn đối với hội chứng ĐƯVTT là 1 hội chứng chỉ chung cho phản ứng sốt của cơ thể (khi chưa chắc chắn được nguyên nhân gây sốt). Vậy ta có thể hiểu, Ở NHIỄM TRÙNG, TRIỆU CHỨNG CHẮC CHẮN PHẢI CÓ SỐT, NHƯNG SỐT THÌ CHƯA CHẮC NHIỄM TRÙNG.
  1. ĐAU hay QUẶN?:
  • Vị trí đau: Hạ sườn phải
  • Triệu chứng đau hay quặn ở những bệnh nhân nhiễm trùng đường mật thường do 2 nguyên nhân chính gây ra đó là do VIÊM ĐƯỜNG MẬT NGƯỢC DÒNGBẾ TẮC.

2.1 / Đối với triệu chứng ĐAU :
+ Đau nhẹ, âm ỉ ( có case không đau ) -> VIÊM TẠI CHỖ được xem là nguyên do chính gây đau, không cần phải do bế tắc vẫn hoàn toàn có thể gây ra những cơn đau âm ỉ .
2.2 / Đối với triệu chứng QUẶN ( ĐAU QUẶN ) :
+ Đau quặn -> BẾ TẮC ĐOẠN DƯỚI TÚI MẬT được xem là nguyên do chính gây ra những cơ đau quặn bởi SỰ TĂNG CO BÓP CỦA TÚI MẬT. Sở dĩ túi mật tăng co bóp là vì bị BẾ TẮC CẤP TÍNH ở đoạn cuối ống mật chủ ( do sỏi kẹt ) dẫn đến túi mật phản ứng co bóp mạnh hơn để tống dịch mật xuống tá tràng. Nếu bế tắc ở ống gan chung thì sẽ không tăng sự co bóp ở túi mật. Đối với BẾ TẮC MẠN TÍNH thường do u thì k gây ra những cơn đau quặn này. Đây được gọi là CƠN ĐAU QUẶN MẬT, 1 triệu chứng chẩn đoán trong NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG MẬT DO SỎI KẸT ỐNG MẬT CHỦ ( OMC ) .

  1. VÀNG DA:
  • Triệu chứng vàng da thường do BẾ TẮCVIÊM VI QUẢN MẬT
  • Đối với bế tắc thì vàng da (jaundice) là 1 biểu hiện lâm sàng khá đặc trưng (vàng da nhiều, có thể có vàng niêm mạc mắt).
  • Về mặt GP và GP bệnh, đường mật thường bắt nguồn từ các VI QUẢN MẬT (bản chất nhu mô gan-TB đơn tầng) -> đường mật chính (tiểu quản mật-TB biểu mô mật) -> … -> Bóng Vater (đích cuối).

Kết quả hình ảnh cho bile pathway Vater

Source : https://basicmedicalkey.com/the-liver-and-biliary-system/

  • Đối với viêm đường mật ngược dòng, viêm sẽ lan đến các vi quản mật dẫn đến tổn thương thành các vi quản mật -> dịch mật sẽ thấm qua thành các vi quản mật vào huyết tương gây vàng da (nhẹ). Vậy có thể thấy là, không cần phải do nguyên nhân bế tắc nhưng ở những bệnh nhân nhiễm trùng túi mật, thì VÀNG DA LÀ 1 TRIỆU CHỨNG QUAN TRỌNG.

II. Kết luận:

  • Ta chỉ cần tam chứng sốt, đau, vàng da có thể dùng để biện luận 1 case nhiễm trùng đường mật.
  • Ta kết luận bệnh nhân nhiễm trùng đường mật theo tam chứng Charcot theo thứ tự của 3 tiêu chí sau:

+ Đau quặn ( do sỏi kẹt omc gây bế tắc cấp tính ở omc )
+ Sốt ( HCĐƯVTT )
+ Vàng da

* LƯU Ý NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG KẾT LUẬN NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG MẬT THEO TAM CHỨNG CHARCOT:

  • Không do sỏi (u, chít hẹp lành tính, KST,…)
  • Nhiễm trùng ngược dòng (tam chứng)
  • Sỏi đường mật tồn lưu ở omc lâu ngày (tương tự như u)
  • Bệnh nhân đã cắt túi mật
  • Sỏi gan

III. Chẩn đoán phân biệt:

  • Với tam chứng nhiễm trùng đường mật (Đau + Sốt -> Vàng da), có nhiều chẩn đoán phân biệt khác như:

+ Viêm gan : Sốt -> Đau + Vàng da
+ U đường mật : Vàng da -> Đau + Sốt

  • Tam chứng Charcot:

+ Nhiễm trùng đường mật do sỏi kẹt omc : Đau -> Sốt -> Vàng da
Viết bài : Quang Đạt YC17

Share this:

Thích bài này:

Thích

Đang tải …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.