Trượt đốt sống thắt lưng: Cần điều trị sớm

Rate this post

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BSCK II Lê Nghiêm Bảo – Phó trưởng khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Trượt đốt sống thắt lưng tuy không đe dọa trực tiếp đến tính mạng nhưng bệnh lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Bệnh nhân bị trượt đốt sống thắt lưng cần được phát hiện và điều trị sớm, không nên chủ quan và xem nhẹ các triệu chứng bệnh.

1. Trượt đốt sống thắt lưng là gì?

Trượt đốt sống thắt lưng là tình trạng đốt sống trên trượt ra trước hoặc ra sau so với đốt sống dưới. Tình trạng này khiến bệnh nhân đau thắt lưng, đi đứng khó khăn, và thường đau lan xuống một hoặc hai chân.

Theo Wiltse – Newman, trượt đốt sống thắt lưng được chia thành 6 loại :

  1. Trượt đốt sống bẩm sinh.
  2. Trượt đốt sống do khuyết eo.
  3. Trượt đốt sống do thoái hóa.
  4. Trượt đốt sống do bệnh lý.
  5. Trượt đốt sống do chấn thương.
  6. Trượt đốt sống sau phẫu thuật.

2. Mức độ của trượt đốt sống thắt lưng

Theo tác giả Meyerding, trượt đốt sống được chia thành 5 mức độ. Mức độ trượt được xác định bằng tỉ lệ dựa trên phim X-quang quy ước ở tư thế nghiêng. Tỷ lệ trượt được tính bằng khoảng cách trượt với độ rộng của thân đốt sống trượt.

  • Độ 1: Trượt 0 – 25% thân đốt sống.
  • Độ 2: Trượt 26 – 50% thân đốt sống.
  • Độ 3: Trượt 51 – 75% thân đốt sống.
  • Độ 4: Trượt 76 – 100% thân đốt sống.
  • Độ 5: Trượt hoàn toàn, đốt trên hoàn toàn rời khỏi bề mặt thân đốt dưới.

3. Triệu chứng trượt đốt sống thắt lưng

Trong quá trình đầu, thường bệnh nhân không có triệu chứng hoặc chỉ có đau lưng thoáng qua .

Giai đoạn đau thắt lưng: Đau lưng nhiều, đau khi bệnh nhân đi, đứng lâu, cúi ngửa cột sống, sau đó đau lan xuống mông, đùi, cẳng chân và bàn chân, đôi khi kèm tê, đau tăng lên khi ho, hắt hơi. Đau tăng khi cột sống phải chịu lực như khi đứng, đi bộ, lao động,… nhưng nằm nghỉ thì hết đau hoặc đau giảm hẳn. Bệnh nhân thay đổi tư thế từ ngồi sang đứng lên khó khăn. Đôi khi, bệnh nhân cảm nhận được sự trượt của đốt sống khi cúi, ngửa.

Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân thay đổi tư thế và dáng đi, co cứng cơ ở thắt lưng và sự căng cơ ở mặt trong đùi, đi hơi khom lưng về phía trước, có thể kèm theo vẹo cột sống sang bên. Tình trạng đau cột sống thắt lưng mạn tính từng đợt, đau theo cơn và các cơn đau ngày càng xuất hiện dày lên. Khi người bệnh sử dụng áo nẹp cột sống thì triệu chứng này giảm rõ rệt.

Khi khám ở tư thế đứng, bệnh nhân có những tín hiệu cong vẹo cột sống hoặc khi ưỡn quá mức sẽ giúp bệnh nhân đỡ đau hơn. Đây là tín hiệu đặc trưng, có ý nghĩa nhất để chẩn đoán bệnh. Dấu hiệu đau cách hồi ( đau khi đi bộ, vì đau phải dừng lại, hết đau mới đi tiếp, đang đi vì đau lại phải nghỉ, hết đau lại đi ) tích hợp với những bộc lộ tê bì, căng đau cả hai chân khi đi bộ. Triệu chứng này không Open khi bệnh nhân đi xe đạp điện. Đây là triệu chứng rất quan trọng giúp chẩn đoán phân biệt với bệnh thoát vị đĩa đệm .
Trượt đốt sống thắt lưng ra trước

4. Chẩn đoán trượt đốt sống thắt lưng

  • Chụp X-quang quy ước ở các tư thế: Thẳng, nghiêng, cúi tối đa và ưỡn tối đa. Trong một số trường hợp, cần thiết chụp thêm film chếch 3⁄4 (phải, trái). X-quang quy ước giúp chẩn đoán chính xác vị trí, mức độ trượt.
  • Cắt lớp vi tính (CT Scan): Là công cụ chẩn đoán rất có giá trị đánh giá về cấu trúc xương, xác định vị trí, mức độ trượt và các tổ thương của eo, mấu khớp, hẹp ống sống,…
  • Cộng hưởng từ (MRI) là công cụ lý tưởng để đánh giá tổn thương về mô mềm và sự chèn ép thần kinh trong trượt đốt sống thắt lưng. Trên phim cộng hưởng từ, có thể phát hiện các nguyên nhân gây chèn ép thần kinh: đĩa đệm thoát vị, dây chằng dày, các tổ chức xơ sẹo, hẹp lỗ ghép,…

5. Điều trị trượt đốt sống thắt lưng

5.1. Điều trị nội khoa

Phần lớn bệnh nhân trượt đốt sống thắt lưng được điều trị nội khoa sẽ cải tổ rõ ràng những cơn đau. Đối với bệnh nhân tuổi thiếu niên, nằm nghỉ mặc áo cố định và thắt chặt ngoài và hạn chế những hoạt động giải trí gây đau hoàn toàn có thể cải tổ được những triệu chứng của bệnh. Với bệnh nhân là người trưởng thành, điều trị bảo tồn đốt sống thắt lưng như sau :

  • Cố định ngoài và hướng dẫn vận động.
  • Chỉ định nằm nghỉ trong các đợt đau cấp.
  • Sử dụng thuốc chống viêm, giảm đau.
  • Điều trị vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, tập thể dục tăng cường sức cơ lưng, đùi, bụng.
  • Giảm cân đối với người béo phì.

5.2. Phẫu thuật

Chỉ mổ với bệnh nhân bị trượt đốt sống thắt lưng trong những trường hợp sau :

  • Trượt đốt sống đã được điều trị bảo tồn ít nhất 6 tuần trước đây và thường sau 6 – 12 tháng điều trị bảo tồn mà không giảm, ảnh hưởng sinh hoạt và lao động.
  • Bệnh nhân đau nhiều, không đáp ứng với các biện pháp nghỉ ngơi và dùng thuốc.
  • Trượt đốt sống gây các biến chứng: Liệt vận động một hoặc hai chân, teo cơ, rối loạn cơ vòng bàng quang (bí tiểu).
  • Trượt đốt sống nặng, tiến triển do khuyết eo đốt sống ở trẻ nhỏ.

Đối với trượt đốt sống thắt lưng, phẫu thuật nhằm mục đích 2 mục tiêu : Giải phóng chèn ép thần kinh, làm vững cột sống. Có 3 yếu tố rất là cơ bản trong phẫu thuật điều trị trượt đốt sống, giúp cuộc mổ thành công xuất sắc, đó là :

  • Giải ép thần kinh cho thật tốt.
  • Cố định cột sống bằng dụng cụ.
  • Tạo sự liền xương tốt sau phẫu thuật.

Hiện nay, phẫu thuật nắn chỉnh trượt, cố định và thắt chặt cột sống bằng nẹp vít cuống đốt, ghép xương liên thân đốt lối sau được cho là hiệu suất cao nhất, vận dụng thông dụng nhất để điều trị trượt đốt sống thắt lưng .
Khám sàng lọc trước khi mang thai: Quan trọng nhưng đang bị lơ là

6. Bệnh nhân bị trượt đốt sống thắt lưng cần phải điều trị sớm

Kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng có tốt hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố :

  • Bệnh nhân điều trị sớm, đây là yếu tố quan trọng nhất, cần điều trị từ khi chưa có biến chứng teo cơ, liệt chi, bí tiểu. Mức độ nặng của bệnh: Mức độ trượt càng cao, điều trị càng khó và dễ biến chứng hơn.
  • Các bệnh đi kèm theo như trượt đốt sống có kèm loãng xương thì phẫu thuật dễ thất bại do bắc ốc không chắc, không vững, hàn xương thấp.
  • Trình độ và kinh nghiệm của bác sĩ điều trị và phẫu thuật.

Trung tâm Chấn thương chỉnh hình & Y học thể thao – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City là chuyên khoa chuyên điều trị các chấn thương và tình trạng bệnh liên quan đến hệ thống cơ xương khớp và dây chằng.

Trung tâm có thế mạnh trình độ trong phẫu thuật, điều trị những bệnh lý :

  • Thay thế một phần hoặc toàn bộ đoạn xương và khớp nhân tạo;
  • Thay khớp háng, gối, khuỷu tay;
  • Thay khớp vai đảo ngược, các khớp nhỏ bàn ngón tay đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam;
  • Phẫu thuật nội soi khớp tái tạo và sửa chữa các tổn thương dây chằng, sụn chêm;
  • Ung thư xương, u xương và mô mềm cơ quan vận động;
  • Phục hồi chức năng chuyên sâu về Y học thể thao;
  • Phân tích vận động để chẩn đoán, theo dõi và cải thiện thành tích cho các vận động viên; chẩn đoán và hỗ trợ phục hồi cho người bệnh.

Trung tâm đang vận dụng những công nghệ tiên tiến văn minh, tối tân vào điều trị như công nghệ tiên tiến tái tạo hình ảnh 3D và in 3D xương, khớp tự tạo, công nghệ tiên tiến trợ cụ thành viên hóa được sản xuất và in 3D, công nghệ tiên tiến sản xuất và ứng dụng xương khớp tự tạo bằng những vật tư mới, kỹ thuật phẫu thuật đúng chuẩn bằng Robot .

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.