Viêm mô tế bào lan tỏa vùng hàm mặt – Biến chứng bệnh lý răng miệng

Rate this post

Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp là do vi trùng gây bệnh từ răng hoặc từ mô nha chu bị viêm xâm nhập được vào trong xương hàm ( trải qua những khối áp xe chóp răng, túi nha chu sâu, hoặc do điều trị nội nha ). Tiếp theo vi trùng từ ổ nhiễm trùng khu trú sẽ là hủy hoại lớp màng xương ở hàm sau đó lan đến gây nhiễm trùng ở những lớp mô mềm ở vùng mặt .

Một số chủng vi khuẩn gây nhiễm trùng vùng hàm mặt

Streptococcus milleri group 65
Peptostreptococcus species 65
Other anaerobic streptococci 6
Prevotella species ( oralis, melaninogenica, etc. ) 74
Porphyromonas species ( gingivalis, etc. ) 17
Fusobacterium species 52


Diễn tiến của bệnh viêm mô tế bào và triệu chứng lâm sàng tương ứng

Giai đoạn 1 : Viêm mô tế bào thanh dịch
Đây là quá trình khi vi trùng vừa xâm nhập đến lớp mô mềm sẽ gây những triệu chứng như :
– Xuất hiện phù nề nhẹ .
– Mảng sưng tấy không rõ ràng .
– Lớp da bên ngoài hoàn toàn có thể thông thường hoặc hơi hồng .
– Khi sờ lên vùng nhiễm trùng thấy mềm không nóng và ít đau .
– Thường chưa Open triệu chứng body toàn thân ở quy trình tiến độ này .
Giai đoạn 2 : Viêm mô tế bào tấy
Khi vi trùng mở màn xâm nhập sâu vào lớp mô tế bào và tăng trưởng sẽ tạo thành nhiều ổ nhiễm trùng khu trú trong lớp mô mềm gây ra những triệu chứng như :
– Vùng sưng hiện rõ, sưng đỏ .
– Khối sưng căng cứng hoàn toàn có thể sờ được .
– Gây đau nhiều .
– Xuất hiện những triệu chứng body toàn thân như : Sốt, căng thẳng mệt mỏi, khít hàm … .

Ảnh minh họa

Giai đoạn cuối: Viêm mô tế bào lan tỏa

– Là tiến trình nặng nhất của viêm mô tế bào ,
– Xảy ra ở những người bệnh có sức đề kháng kém, người mắc những bệnh mạn tính hay do vi trùng có độc tính cao. Khối nhiễm trùng lan rộng đến nhiều phần trên vùng mặt, cổ gây biến dạng khuôn mặt .
– Triệu chứng body toàn thân rất nghiêm trọng : Rét run, sốt cao, mất ngủ, căng thẳng mệt mỏi …
– Khối sưng đỏ, lớn, cứng chắc .
– Người bệnh hoàn toàn có thể bị khít hàm gây mất ăn → gây suy kiệt cho người bệnh .
– Nếu khối sưng nằm vùng dưới hàm hoàn toàn có thể gây bít đường thở dẫn đến tử trận .
– Người bệnh đau nhiều .
– Tùy theo vùng nhiễm trùng mà tiên lượng của người bệnh sẽ khác nhau. Tiên lượng tử trận rất cao nếu không chữa trị kịp thời gây nhiễm trùng body toàn thân, sốc nhiễm khuẩn .

Các nhóm người có nguy cơ mắc viêm mô tế bào thể nặng

– Người bị suy giảm miễn dịch do HIV / AIDS, tiểu đường hay sử dụng thuốc chống thải ghép .
– Người mắc nhiều bệnh mạn tính như cao huyết áp, suy tim, xơ vữa động mạch, tiểu đường .

Phương hướng xử lý

Tùy theo thực trạng nhiễm trùng ( nhẹ-vừa-nặng ) mà những nha sĩ hoàn toàn có thể triển khai những giải pháp sau :
– Xử lý răng nguyên do :
Mở ống tủy để dẫn lưu mủ .
Nhổ răng nguyên do nên dùng kháng sinh dự trữ trước 1-2 ngày như : Spiramycin tích hợp với metronidazole để ngừa nhiễm trùng huyết .
– Rạch dẫn lưu mủ, rạch rộng nhiều tầng, nhiều lớp để những ổ mủ được thoát ra ngoài và bơm rửa ngày 2 lần .
– Nếu người bệnh bị bít đường thở cần đặt ống thông nội khí quản .
– Tăng cường sức đề kháng cho người bệnh, bù nước, truyền dịch nếu người bệnh không hề ăn do khít hàm …
– Kiểm soát tốt những bệnh lý nền mãn tính như tiểu đường, cao huyết áp …
– Sử dụng kháng sinh body toàn thân trong tối thiểu một tuần nên dùng kháng sinh có thời hạn tác động ảnh hưởng dài và hiệu ứng hậu kháng sinh tốt như spiramycin và metronidazole tích hợp .

Phòng ngừa

– Nên vệ sinh răng miệng tốt .
– Thay đổi lối sống, thói quen siêu thị nhà hàng để phòng ngừa những bệnh răng miệng .
– Xử lý những chấn thương răng sớm .

– Khám răng định kỳ  6 tháng một lần để phát hiện và có biện pháp xử lý sớm các bệnh lý về răng miệng.

PGS.TS Nguyễn Phú Thắng

Trưởng Bộ môn Phẫu thuật trong miệng,  Viện đào tạo Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.