Chụp X quang cột sống có thể cho biết điều gì?

Rate this post
Chụp X quang cột sống là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thường quy giúp bác sĩ phát hiện ra những yếu tố không bình thường ở những phần cũng như hàng loạt cột sống mà mắt thường không nhìn thấy được .Cột sống là phần trụ cột để nâng đỡ hàng loạt khung hình. Cột sống người thường gồm có 33 đốt sống và những thành phần cơ bản khác, như đĩa đệm, tủy sống, những rễ thần kinh, …Chụp X quang cột sống là kỹ thuật quan trọng trong y học, giúp chẩn đoán nhiều bệnh lý cột sống thường gặp như :

  • Dị dạng cột sống bẩm sinh
  • Thoái hóa cột sống
  • Thoát vị đĩa đệm
  • Chấn thương cột sống
  • Lao cột sống
  • Bệnh viêm cột sống dính khớp
  • Bệnh u tủy sống

3.1. Dị dạng cột sống

Một số dị dạng cột sống thường gặp:

  • Dị dạng cột sống do rối loạn chuyển tiếp: Có 8 đốt sống cổ, cột sống thắt lưng tồn tại 6 đốt.
  • Gai đôi và hở eo: Nguyên nhân là do quá trình cốt hoá của cột sống thiếu hoàn thiện.
  • Dính hai thân đốt bẩm sinh: Hai thân đốt dính với nhau cả ở khe đĩa đệm và dính cả phần cung sau, hai thân đốt không bị phá hủy vì thế trục cột sống không bị gù hoặc vẹo.
  • Tồn tại điểm cốt hóa góc trước đốt sống: Điểm cốt hoá của thân đốt sống nằm ở các góc của thân đốt. Do quá trình cốt hóa không hoàn chỉnh, điểm cốt hoá tồn tại như một mảnh xương tách khỏi góc trước thân đốt, thường sau hoại tử vô khuẩn sụn tiếp hợp (bệnh Scheuermann).
  • Cong vẹo cột sống: Nhìn trên phim thẳng tư thế trước – sau, cột sống bị lệch trục, một số đốt bị xoay trục kèm theo biến dạng thân đốt kiểu hình chêm như trong dị dạng nửa thân đốt.
  • Gù đốt sống: Nhìn trên phim chụp nghiêng, cột sống bị lồi ra sau gây gù, do thân đốt biến dạng kiểu hình chêm.

3.2. Bệnh thoái hoá cột sống

Thoái hóa cột sống là bệnh thường gặp ở người trên 40 tuổi. Theo Schmorl, thoái hoá cột sống là thoái hoá vòng xơ bao quanh đĩa đệm.

Hậu quả là làm cho đĩa đệm căng phồng lên, lồi ra, dây chằng đốt sống bị kéo giãn và đóng vôi ở sát bờ đĩa đệm để hình thành nên mỏ xương. Mỏ xương thường xuất hiện ở bờ trước và hai bên thân đốt sống, ít thấy ở bờ sau (nếu có thì sẽ chèn ép tủy sống).

Chiều cao khe đĩa đệm trong thoái hoá cột sống lúc đầu ít thay đổi, nhưng sau một thời gian dài cũng bị hẹp do tình trạng thoái hóa xương sụn gây ra, đặc biệt là thoái hoá đĩa đệm.

3.3. Thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm là hiện tượng thoát nhân nhầy của đĩa đệm qua lỗ rách của vòng xơ. Sự di chuyển của nhân nhầy thường ra phía sau và gây chèn ép vào ống tủy và rễ thần kinh. Thoát vị đĩa đệm thường hay gặp ở cột sống thắt lưng, có thể xảy ra ở cột sống cổ, hiếm gặp ở cột sống ngực.

Trên phim chụp X quang quy ước không cho hình ảnh trực tiếp của thoát vị đĩa đệm, tuy nhiên có một thể thoát vị đặc biệt quan trọng hoàn toàn có thể cho hình ảnh trên phim chụp X quang quy ước đó là thể thoát vị vào trong thân đốt ( thoát vị Schmorl ). Thể thoát vị này thường xảy ra ở những bệnh nhân có loãng xương cột sống mức độ nặng .

3.4. Chấn thương cột sống

Chấn thương cột sống là thực trạng hay gặp do tai nạn đáng tiếc giao thông vận tải, hoạt động và sinh hoạt, lao động. Các tổn thương thường gặp là :

  • Vỡ thân đốt: Đường gãy chạy ngang thân đốt, gây gián đoạn hoặc gập góc ở bờ trên thân đốt.
  • Xẹp thân đốt: Chiều cao thân đốt bị xẹp xuống, đậm độ cản quang tăng hơn các đốt lân cận, thường lún ở bờ trước thân đốt nên hình thân đốt bị xẹp có dạng hình chêm. Khe đĩa đệm nói chung là không bị hẹp.
  • Trượt thân đốt: Thường trượt ra trước, ra sau hoặc sang bên, có thể gây chèn ép tủy hoặc cắt đứt tủy hoàn toàn.
  • Gãy mỏm nha C2.
  • Gãy mỏm ngang: Thường gãy mỏm ngang ở các thân đốt sống thắt lưng.
  • Gãy cung sau, mỏm gai ít gặp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.